Lịch sử ngành hàng hải (Phần 3)

10-tham-hoa-hang-hai-kinh-hoang-nhat-trong-lich-su-Hinh-6
Lịch sử ngành hàng hải (Phần 2)
12/01/2018
nam-2018-co-tau-cho-hang-khong-nguoi-lai-bat-dau-ra-khoi-22-.2152
Tàu chở hàng không người lái bắt đầu ra khơi từ năm 2018?
24/01/2018
tau-ma-thumbnail

7/ Con tầu Challenger

 Vào năm 1818, Sir John Ross được Bộ Hải Quân Anh Quốc cử đi thám hiểm Bắc Băng Dương và đã mang về hàng ngàn mẫu đất lấy tại đáy biển. Về sau, Sir John Ross còn có người cháu là Sir James Clark Ross đã từng đi thám hiểm miền Nam Băng Dương vào các năm 1839/1843 và đã xuất bản sách nói về công cuộc tìm hiểu đại dương.

 Vào năm 1860, con tầu địa hình Bulldog đi lên mạn Bắc Băng Dương và đã khảo sát giống vật ở dưới sâu hơn 1,200 fathoms. Thời bấy giờ tại nước Anh, có nhà vạn vật học trẻ tuổiCharles Wyville Thompson dạy môn Hải Sinh Lý Học tại Belfast, Ái Nhĩ Lan, mong muốn được Bộ Hải Quân Anh giúp đỡ vào công cuộc khảo cứu các điều kiện sinh sống và sự phân phối của hải sinh vật ở dưới sâu. Với sự cộng tác của Tiến Sĩ W. B. Carpenter, Phó Chủ Tịch Viện Hoàng Gia, Thompson trình bày kế hoạch của mình trước Viện Hoàng Gia rồi Viện này lại nhờ Bộ Hải Quân trợ giúp chương trình nghiên cứu. Vì vậy Thompson được Bộ Hải Quân cấp cho con tầu Lightning.

 Khi phái đoàn đã ra khơi và mới chỉ khảo cứu được 10 ngày thì thời tiết trở nên rất xấu, con tầu Lightning bị hư hỏng và bị ngấm nước, vì thế Thompson và Carpenter phải trở lại Belfast. Tuy nhiên hai nhà khoa học này cũng chứng minh được rằng sinh vật có rất nhiều và cũng thay đổi nhiều ở độ sâu 650 fathoms. Các kết quả của công trình khảo cứu được Thompson phổ biến qua tác phẩm “Những Chiều Sâu của Biển Cả” (The Depths of the Sea). Cuốn sách này đã giải đáp nhiều vấn đề liên quan tới sinh vật ở dưới sâu, nên đã được các hội viên Viện Hoàng Gia rất hoan nghênh. Wyville Thompson được yêu cầu tiếp tục một công cuộc khảo cứu khác và Bộ Hải Quân lần này lại cấp cho nhà vạn vật học một chiếc tầu tốt hơn với đầy đủ dụng cụ hơn.

 Tháng 5 năm 1869, tầu Porcupine ra khơi, mang theo một bộ tham mưu đông dảo. Tầu đã thả lưới sâu 2,435 fathoms và đã mang lên được nhiều mẫu hải sinh vật không xương sống. Công cuộc khảo sát này chứng tỏ rằng những điều tiên đoán về cuộc sống ở mực sâu nhất trong biển cả của Sir James Clark Ross là đúng. Công trình khảo cứu của Charles Wyville Thompson trên hai con tầu Lightning và Porcupine đã khiến nhà vạn vật học này được bầu làm nhân viên Hội Hoàng Gia khiêm Giáo Sư Vạn Vật Học tại Đại Học Đường Edinburg, một chân mà 15 năm về trước, Edward Forbes đã đảm nhiệm.

 Mặc dù những thành quả đã thu lượm được, Thompson còn đề nghị một công cuộc khảo sát ở dưới sâu thực hiện với tính cách đại quy mô trên toàn thế giới. Ý kiến này được Bộ Hải Quân chấp thuận và con tầu H.M.S. Challenger, trọng tải 2,000 tấn, được chỉ định lãnh nhiệm vụ. Tầu Challenger mang theo cả buồm và động cơ hơi nước. Dưới quyền điều khiển của Thompson, bộ tham mưu trên con tầu gồm các nhà vạn vật học H. N. Mosely, Tiến SĩVon Willemoes-Suhm, John Murray, nhà hóa học kiêm nhà vật lý J. Y. Buchanan J. J. Wild, họa sĩ kiêm thư ký. Các nhà khoa học này được Viện Hoàng Gia chỉ định để hoàn thành công cuộc khảo sát.

 Vài ngày trước lễ Giáng Sinh năm 1872, con tầu H.M.S. Challenger ra khơi. Tầu đã cập bến Lisbonne, Gibraltar, Madère, đi tới quần đảo Canaries, băng qua Đại Tây Dương bằng cách dùng hải trình mà 380 năm về trước Christophe Colomb đã sử dụng. Trong ba năm trời, tầu Challenger đã xuôi ngược từ bắc xuống nam và từ đông sang tây trên cả Đại Tây Dương lẫn Thái Bình Dương. Công cuộc khảo cứu tỉ mỉ và ít thay đổi từ tháng nọ sang tháng kia, thêm vào là nỗi cô đơn, đã đòi hỏi các nhà khoa học lòng can đảm và tính chịu đựng. Vì vậy nhiều người trên tầu đã bị thiệt mạng trong đó có Tiến Sĩ Von Willemoes-Suhm còn Wyville Thompson bị ốm nặng và bệnh tật còn kéo dài tới lúc ông qua đời vài năm sau.

 Con tầu Challenger trở về nước Anh vào năm 1876, mang theo rất nhiều tài liệu quý giá. Một hội đồng khảo cứu được thành lập và các văn phòng được đặt tại Edinburg. Các nhà khoa học xác định dần những đồi núi, thung lũng và chiều sâu của đáy biển. Nơi sâu nhất gần quần đảo Mariannes trong Thái Bình Dương được ghi nhận là 4,475 fathoms. Hàng ngàn mẫu mới về hải sinh vật được khám phá. Tất cả tài liệu khoa học về biển cả này đã được phổ biến qua 50 cuốn sách. Charles Wyville Thompson được phong Hiệp Sĩ vì các công trình khoa học, đã qua đời trước khi những tác phẩm này được hoàn thành. Thành phố Edinburg trở nên trung tâm khảo cứu về Hải Dương Học và nhiều nhà vạn vật tài giỏi của các quốc gia khác cũng phải tới Edinburg để tìm học  những điều khám phá do chuyến du hành của con tầu Challenger mang lại. Trong số những người viếng thăm có nhà hải dương học danh tiếng Hoa Kỳ Alexander Agassis.

8/ Tiến Sĩ Fridtjof Nansen

 Vào tháng 9 năm 1893, con tầu Fram ra khơi, bắt đầu công cuộc khảo cứu vùng Bắc Cực. Tiến Sĩ Fridtjof Nansen, một nhà khoa học chuyên về sinh lý học và động vật học, đã đi thám hiểm để kiểm chứng lý thuyết của mình. Theo ông Nansen, phải có một luồng nước mạnh chảy từ eo biển Behring, qua Bắc Cực, tới Đại Tây Dương vào khoảng giữa Groendland và Spitzberg. Cùng ra đi chuyến này với Tiến Sĩ Nansen, có Otto Sverdrup và 11 nhà khoa học khác. Con tầu Fram đã ra đi mang theo đầy đủ lương thực, quần áo và nhiên liệu đủ dùng trong 8 năm, thêm vào đó lại có cả dụng cụ âm nhạc, thể thao, các cỗ bài và một thư viện gồm một ngàn cuốn sách. Trong trường hợp nguy nan phải bỏ tầu, các nhà khoa học đã có 6 chiếc thuyền nhỏ và nhiều đội chó kéo xe trượt tuyết.

 Sau gần một năm trời ra đi, tầu Fram rời mũi Tchéliouskine, mỏm cực bắc của miền Sibérie, tiến sâu vào vùng lạnh giá cho tới khi tầu bị băng đóng chặt cứng. Các nhân viên trên tầu phải sống cô đơn như thể lạc lõng vào một hành tinh xa lạ vì vào thời đó, vô tuyến truyền thanh chưa được phát minh. Sau nửa năm trời nằm tại một vị trí, con tầu Fram bắt đầu di chuyển được chút ít nhưng vẫn còn cách Bắc Cực hàng trăm dậm.

 Vào giữa tháng 12 năm 1894, tầu Fram tới 82 độ 30 vĩ độ, một địa điểm cao nhất, chưa hề một con tầu nào khác đạt tới. Đến lúc này, Tiến Sĩ Nansen thấy rằng nên rời tầu mà dùng các đoàn chó, đi xe trượt tuyết tới Bắc Cực. Sverdrup phải ở lại tầu, Nansen cùng Johansen bắt đầu cuộc thám hiểm. Tháng 2 năm 1895, Nansen và Johansen ra đi với 6 xe trượt tuyết, 28 con chó, 2 thuyền độc mộc (kayak) và lương thực đủ dùng nhiều tháng nhưng sau 4 ngày, đoàn thám hiểm phải trở về và bỏ lại 3 xe trượt tuyết. Nansen còn cách Bắc Cực 350 dậm thì bão tuyết đã làm trở ngại cuộc hành trình.

 Mùa xuân năm 1896, Tiến Sĩ Nansen trở về Na Uy thì một tháng sau, con tầu Fram cũng về đến bến. Sau cuộc viễn du, Tiến Sĩ Nansen đã mang về các kiến thức của phần biển cuối cùng chưa thám hiểm của Thế Giới. Tiến Sĩ Fridtjof Nansen được coi là một trong các nhà thám hiểm bậc nhất của Nhân Loại và nước Na Uy đã tặng ông danh hiệu Công Dân Danh Dự.

 Các đóng góp quan trọng khác thuộc ngành Hải Dương Học vào cuối thế kỷ 19 là của ông Hoàng Albert I của xứ Monaco và vài nhà khoa học miền Scandinavie như hai ông Bjorn Helland Hansen và W. Walfrid Ekman. Ông Hoàng Albert I đã tài trợ một hạm đội tầu biển hải dương học để tìm hiểu các giòng nước của miền bắc Đại Tây Dương và khám phá các loại cá sống trong độ sâu trung bình.

9/ Các khảo cứu trong thế kỷ 20

 Bước sang Thế Kỷ 20, nhờ Khoa Học và Kỹ Thuật tiến bộ, các phương pháp khảo sát biển cả cũng được cải tiến. Môn Hải Dương Học càng ngày càng phát triển. Tại Hoa Kỳ, Hải Học Viện Woods Hole được thành lập trong tiểu bang Massachusetts và Giáo Sư Henry Bigelow được chỉ định làm Giám Đốc.

 Vào thời bấy giờ, vì trù tính đóng con tầu đặc biệt để sử dụng cho công cuộc khảo cứu hải dương học, Giáo Sư Bigelow đã cần tới sự trợ giúp của người học trò giỏi tên là Columbus Iselin. Rồi con tầu Atlantis được đóng tại Đan Mạch và được cho chạy về Woods Hole. Trong 12 năm liền, mỗi năm từng 8 tháng, Columbus Iselin đã sống trên con tầu Atlantis, ghi chép các yếu tố khảo cứu trong Đại Tây Dương, trong Vịnh Mễ Tây Cơ và biển Antilles…

 Mặt khác, các trở ngại vì băng hà và thời tiết khắc nghiệt tại Bắc Băng Dương khiến cho công việc khảo cứu vùng Cực Khuyên rất khó thực hiện. Theo đề nghị của Hubert Wilkins, một nhà thám hiểm người Úc, nhà hải dương học danh tiếng người Na Uy tên là Harald Ulrik Sverdrup liền cộng tác với Hải Quân Hoa Kỳ trong việc sử dụng một chiếc tầu ngầm đi khảo sát tại Bắc Cực.

 Mùa hè năm 1931, Tiến Sĩ Sverdrup điều khiển phái đoàn các nhà khoa học ra đi. Nhưng không may, chiếc tầu ngầm sử dụng lại bị hư hỏng cơ phận lặn vì thế việc di chuyển ngầm dưới các tảng băng không thể thực hiện được và các nhà khoa học bị đứng giữa hai ngả đường: hoặc trở về, hoặc khảo sát trên mặt nước. Giải pháp thứ hai đã được chọn và các yếu tố gặt hái được cũng rất đáng kể, điều này chứng tỏ rằng các nhà khoa học có thể theo đuổi công việc nghiên cứu bên trong một chiếc tầu ngầm.

 Ba năm sau công cuộc thám hiểm với Hubert Wilkins, Tiến Sĩ Sverdrup lại khảo cứu những tảng băng với nhà băng hà học (glaciologist) H. W. Ahlmann tại miền Spitzberg. Vào năm 1936, Tiến Sĩ Sverdrup được mời làm Giám Đốc Hải Học Viện Scripps (Scripps Institution of Oceanography) mới được thành lập tại La Jolla, trong tiểu bang California.

 Năm 1939, Columbus Iselin kế tiếp Giáo Sư Bigelow làm Giám Đốc Hải Học Viện Woods Hole. Khi Thế Chiến Thứ Hai bùng nổ, môn Hải Dương Học đã giữ một vai trò rất quan trọng trong nhiều công tác chiến tranh. Sóng biển đã ảnh hưởng tới các con tầu đổ bộ, các hàng không mẫu hạm, các con tầu tiếp tế nhiên liệu… Giới quân sự còn quan tâm tới thủy triều, tới cách mưu sinh và thoát hiểm trên biển cả. Vì vậy hàng trăm sĩ quan hải quân đã được gửi tới Hải Học Viện Woods Hole để học hỏi về biển khơi, sử dụng cho mục tiêu quân sự. Hải Học Viện Woods Hole vì vậy được phát triển tới 300 nhân viên và 5 con tầu khảo cứu.

 Vì áp suất của nước biển, các nhà hải dương học không thể xuống sâu dưới nước mặc dù đã dùng tới các áo lặn. Biển khơi còn chứa đựng nhiều bí ẩn và các nhà khoa học mong muốn xuống thật sâu để khảo cứu tại chỗ các hải sinh vật. Trong số những người quan tâm tới vấn đề này có Giáo Sư August Piccard, người Thụy Sĩ và xuất thân từ Viện Kỹ Thuật Zurich.

 Sau khi đã đọc các bài khảo sát về biển và hiểu rõ nhiều nỗi khó khăn trong việc thu lượm những dữ kiện khoa học lấy được tại đáy biển sâu, Giáo Sư Piccard đã phác họa một dụng cụ lặn có hình dáng giống như một quả bóng tròn. Dụng cụ này bắt nguồn từ khinh khí cầu FNRS -1 mà Giáo Sư Piccard đã thực hiện vào năm 1931 và đã lên cao 11 cây số vào năm 1932.

 Vào năm 1934, kỷ lục lặn sâu là nửa dậm do hai nhà khoa học Hoa Kỳ thực hiện, làWilliam Beebe, nhà vạn vật học kiêm sinh vật học và Otis Barton, kỹ sư. Hai nhà khoa học này đã ngồi trong một trái cầu bằng thép và nhờ dây cáp thả xuống sâu bên ngoài khơi Bermudes.

 Giáo Sư Piccard căn cứ vào trái cầu lặn (bathysphere) của Beebe nhưng ông cho rằng một dụng cụ lặn cần phải bơi ngang dọc và lên xuống mà không phụ thuộc vào dây cáp như vậy mới an toàn. Giống như lần khảo cứu về kinh khí cầu, Chính Phủ Bỉ lại dùng “Ngân Quỹ Quốc Gia sử dụng cho Công Cuộc Khảo Cứu Khoa Học” (Fond National de la Recherche Scientifique = FNRS) để trợ giúp Giáo Sư Piccard. Trong khi công cuộc chế tạo con tầu lặn đang được trù liệu thì Thế Chiến Thứ Hai bùng nổ vì vậy mãi tới năm 1948, con tầu lặn của Giáo Sư Piccard mới được hạ thủy và được đặt tên là FNRS -2.

 Con tầu lặn FNRS -2 được tầu Scaldis chuyên chở ra bờ biển phía tây châu Phi để lặn thử lần đầu. Ba chiếc tầu của Hải Quân Pháp được chỉ định giúp đỡ cuộc thí nghiệm. Sau khi đã kiểm soát các máy móc, Giáo Sư Piccard và Theodore Monod đã xuống sâu 14 fathoms rồi tầu lặn được thả không người xuống độ sâu 770 fathoms và kết quả rất khả quan đã cho phép các nhà khoa học thực hiện các cuộc lặn sâu 550 fathoms.

 Thời bấy giờ Chính Phủ Pháp cũng trù tính đóng tầu lặn. G.S. Piccard được mời làm cố vấn kỹ thuật. Vào năm 1953, hai con tầu do G.S. Piccard vẽ kiểu được đóng tại Trieste và đã mang tên là FNRS -3 và Trieste để kỷ niệm thành phố đã sinh ra nó. Tháng 9 năm 1953, G.S. Piccard và con trai của ông tên là Jacques đã xuống sâu hơn 3,000 thước, tới đáy Địa Trung Hải và đã trở lên an toàn, tạo kỷ lục về lặn sâu. Năm sau, kỷ lục này lại bị phá do con tầu FNRS -3. Đại Úy Hải Quân Pháp Georges Houot và kỹ sư hàng hải Pierre Willm đã điều khiển tầu lặn FNRS -3 xuống sâu được 4,400 thước.

 Năm 1958, Hải Quân Hoa Kỳ đã mua lại con tầu Trieste và nhờ G.S. Piccard làm cố vấn kỹ thuật. Năm 1960, tầu Trieste đã lặn nhiều lần ngoài khơi đảo Guam, lần đầu tầu đạt tới độ sâu 6,000 thước, rồi lần sau tới 8,000 thước. Trong lần thứ ba, Jacques Piccard và Đại Úy Hải Quân Don Walsh đã xuống đáy vực Challenger và đạt độ sâu 10,700 thước. Mặc dù ở sâu dưới 7 dậm, trong nước biển rất lạnh và áp suất là một tấn rưỡi trên một phân vuông, Jacques Piccard và Đại Úy Walsh đã trông thấy nhiều bầy cá bơi lội.

 Hiện nay, nhiều người đã đi tới mọi nơi trên trái đất nhưng còn rất nhiều vùng biển trong Thái Bình Dương và đáy biển Ấn Độ Dương chưa được thám hiểm. Các nhà hải dương học không những phải tìm ra lời giải đáp cho các câu hỏi cổ điển, mà còn phải đương đầu với nhiều vấn đề trọng đại chẳng hạn như vấn đề thực phẩm mà biển cả có thể cung cấp cho nhân loại với dân số mỗi ngày một gia tăng.

 Đại dương không những chứa đựng bên trong nhiều sinh vật mà còn là nơi con người có thể khai thác được những kho năng lượng khổng lồ. Qua hàng bao thế kỷ, các kỹ sư vẫn tìm cách dùng nước thủy triều vào việc chuyển vận động cơ. Con người còn tìm cách lọc nước biển, lấy nước ngọt để tưới lên những vùng đất cằn cỗi. Nước biển còn chứa nhiều nguyên liệu như vàng, magnésium… Việc khảo cứu biển cả vì vậy được nhiều quốc gia theo đuổi, đáng kể hơn cả là Nga Sô, Hoa Kỳ, Anh Quốc và Nhật Bản.

 Những công cuộc khảo cứu về Hải Dương Học đòi hỏi nhiều cộng tác trên bình diện quốc tế. Vì thế năm Địa Cầu Vật Lý Học Quốc Tế (the International Geophysical Year) 1957/58 được tổ chức và đã được 67 quốc gia tham dự trong 18 tháng liền. Trong chương trình cộng tác quốc tế này, các nhà hải dương học đã đóng nhiều vai trò quan trọng và họ đã thiết lập các phòng thí nghiệm tại khắp nơi trên thế giới.

 Cuối năm 1958, một chương trình khác có tên là Cộng Tác Địa Cầu Vật Lý Quốc Tế (The International Geophysical Cooperation) được tổ chức để tiếp nối các công trình của kế hoạch năm trước với mục đích tìm kiếm, phân tích, thảo luận và phổ biến các kết quả của năm Địa Cầu Vật Lý Học đã qua.

 Năm 1960, một hội nghị các nhà hải dương học được tổ chức tại thành phố New York, Hoa Kỳ. Hơn 1,000 đại biểu từ 30 quốc gia tham dự đã gặp nhau để trao đổi tư tưởng và những điều khảo cứu. Đại biểu các quốc gia cũng mang theo nhiều con tầu sử dụng trong các công cuộc thám hiểm, đặc biệt nhất là sự hiện diện của chiếc tầu khảo cứu Atlantis, chiếc tầu Pháp Calypso của Đại TáJacques Yves Cousteau và chiếc tầu Nga Mikhail Lomonosov trọng tải 5,960 tấn.

 Đại dương quá rộng lớn, chiếm vào khoảng 70 phần trăm diện tích Trái Đất và còn chứa đựng rất nhiều bí ẩn. Các nhà khoa học càng khảo cứu, càng gặp phải các câu hỏi mới. Vì vậy những tiến bộ về Hải Dương Học cần tới thiện chí và sự cộng tác quốc tế của nhiều quốc gia trên toàn thế giới./.                       

Phạm Văn Tuấn

The end.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *