Lịch sử ngành hàng hải (Phần 2)

IMG_0677
TẠO ĐIỀU KIỆN ĐỂ DOANH NGHIỆP VẬN TẢI BIỂN PHÁT TRIỂN
10/01/2018
tau-ma-thumbnail
Lịch sử ngành hàng hải (Phần 3)
18/01/2018
10-tham-hoa-hang-hai-kinh-hoang-nhat-trong-lich-su-Hinh-6

4/ Con tầu thám hiểm Endeavour.

 Vào năm 1768, các nhà thiên văn trên thế giới tính được rằng hành tinh Venus sẽ vượt qua mặt trời vào năm sau. Sự việc này có thể giúp ích cho các nhà khoa học suy ra khoảng cách từ trái đất tới mặt trời. Nhưng muốn vậy, phải đặt nhiều trạm quan sát tại nhiều nơi trên trái đất. Do lời khuyến dụ của các khoa học gia, nhiều quốc gia châu Âu đồng ý cộng tác trong công việc thực hiện cuộc đo lường này.

 Tại nước Anh, Viện Hoàng Gia cũng khuyên chính phủ Anh bảo trợ công cuộc nghiên cứu. Vì thế Vua George III, vị Bộ Trưởng Hải Quân và các hội viên Viện Hoàng Gia đồng ý gửi đi một toán thám sát, không những vì ích lợi của Khoa Học mà đoàn thám hiểm này còn có thể mang về những nguồn lợi vật chất cho Đế Quốc Anh.

 Một con tầu của Hải Quân Hoàng Gia Anh vì vậy được chỉ định dùng vào công cuộc nghiên cứu. Theo như kế hoạch, tầu sẽ tới Tahiti là hòn đảo mới được khám phá để rồi sau cuộc quan sát, sẽ tiếp tục mục đích thám hiểm. Từ thời Magellan tới lúc bấy giờ, chỉ có một số thuyền bè giương buồm trên Thái Bình Dương. Vì vậy mọi người tin rằng còn nhiều phần đất xa lạ chưa được biết tới, nhất là Nam Bán Cầu và những phần đất này phải khá lớn để cân bằng với lục địa nằm trên Bắc Bán Cầu. Người ta gọi sẵn phần đất chưa biết là Terra Australis Incognita (lục địa phía nam chưa  biết), khác với châu Úc đã được khám phá và được gọi là New Holland.

 Vào thời đó, có một nhân viên của Viện Hoàng Gia tên là Alexander Dalrymple, đã từng đi tới các miền đất Nam Bán Cầu. Dalrymple tưởng tượng ra cả bản đồ của vùng đất Terra Australis I James Cookncognita lẫn giống người và giống vật sống trên đó. Tham vọng của Dalrymple là tới tận nơi để khám phá miền đất hãy còn trong vòng giả thuyết. Ông ta tự cho rằng mình là một nhà khoa học kiêm hàng hải kinh nghiệm, thì việc chỉ huy con tầu đi thám hiểm phải dành cho ông. Nhưng điều này đã bị Bộ Hải Quân Anh phản đối. Bộ bắt buộc rằng một con tầu của Hải Quân phải do một sĩ quan của Hải Quân Hoàng Gia chỉ huy. Bộ liền chỉ định Đại Tá Hải Quân James Cook, một sĩ quan cao lớn, ít nói, đầy tự tin, phụ trách công việc chỉ huy con tầu đi thám hiểm trong khi đó, Viện Hoàng Gia ủng hộ ông Joseph Banks.

 Joseph Banks không phải là một nhà hàng hải, cũng chẳng phải là một người đã từng phiêu lưu nhiều nơi. Ông ta là một nhà quý phái giàu có, ưa thích Thực Vật Học và tò mò về Khoa Học. Dĩ nhiên ông ta rất hãnh diện được là nhân viên của Viện Hoàng Gia, một viện nghiên cứu gồm toàn các nhân vật có học thức uyên bác của nước Anh. Joseph Banks thấy rằng không lý do gì mà không nên có các dụng cụ tốt cũng như những người phụ tá giỏi, vì vậy ông ta không ngần ngại bỏ ra 10,000 bảng tiền túi dùng cho việc sửa soạn công cuộc viễn du. Banks còn chọn Tiến Sĩ Daniel Solander, phụ tá Thủ Thư Viện của Viện Bảo Tàng Anh Quốc kiêm nhà thiên nhiên học và họa sĩ, đủ tài năng phác họa các hình mẫu thuộc về môn Vạn Vật Học.

 Con tầu biển Endeavour trọng tải 368 tấn được thả neo tại Plymouth Sound, chờ thuận gió sẽ khởi hành. Ngay lúc trước ra đi, tầu lại được John Ellis thuộc Viện Hoàng Gia, một người bạn của Tiến Sĩ Solander, tới thăm. Con tầu Endeavour ra đi lần này mang theo những nhà khoa học tìm hiểu về Địa Dư, Hải Dương Học, Vạn Vật Học… Ngoài ra thuyền trưởng Cook còn nhận được chỉ thị mật phải tìm kiếm những lục địa chưa biết, những phần đất chưa khám phá và khi thành công thì nhận làm đất đai của Đế Quốc Anh. Trong khi con tầu băng qua Đại Tây Dương, các nhà khoa học lo ghi chép nhiệt độ của nước biển, đo chiều sâu của các giòng nước, thu lượm và xếp loại các sinh vật trong biển, nghiên cứu về sóng, gió, giòng nước cùng các hiện tượng thiên nhiên. Sau 127 ngày vượt biển, con tầu Endeavour tới đảo Tahiti. Đây là lần đầu tiên trên Thái Bình Dương có một con tầu đi thẳng tới mục tiêu.

 Sau khi đã quan sát lúc hành tinh Venus đi ngang qua mặt trời, con tầu Endeavour bắt đầu tìm kiếm các phần đất đai mới. Các nhà hàng hải gặp quần đảo Tân Tây Lan mà 127 năm về trước, nhà hàng hải người Hòa Lan Abel Janszoon Tasman đã nhìn thấy đầu tiên. Tuy nhiên quần đảo này chưa hề được ghi trên bản đồ cả về hình dáng, độ lớn cùng vị trí trên biển cả. Các nhà khoa học đã bỏ ra 6 tháng để đo đạc và vẽ địa thế quần đảo Tân Tây Lan. Việc trao đổi thực phẩm với dân bản xứ rất khó khăn vì trên đảo toàn là thổ dân ăn thịt người. Sau đó thuyền trưởng cũng như các nhà khoa học đều đồng ý nên trở về an toàn hơn là đi thám hiểm các phần đất mới khác.

 Khi đã đi cách bờ được 25 dậm, con tầu Endeavour đụng phải đá ngầm. Tầu bắt đầu bị nước tràn vào, trong khi đó không có đủ thuyền bè để cứu tất cả nhân viên trên tầu. Thuyền Trưởng Cook quyết định rằng cách hay nhất có thể sống sót là cố làm cho con tầu nổi cho tới khi chèo được vào bờ, khi đó có thể sửa chữa và sử dụng tầu cho cuộc ra về. Vì thế vào đêm hôm đó, mọi người trên tầu cùng hết sức bơm nước ra khỏi tầu và vứt bỏ các thứ không cần thiết. Sau một ngày và một đêm cố gắng, con tầu Endeavour được kéo vào bờ. Trong khi những người khác sửa chữa vỏ tầu, Joseph Banks soạn lại các tài liệu ghi chép và phơi khô từng trang giấy. Cũng may, tất cả những hồ sơ đều không bị mất mát nhiều.

 Sau hai tháng trường tạm sửa chữa, con tầu Endeavour lại ra khơi nhưng lần này không theo con đường cũ mà tới hải cảng Batavia để tu bổ thêm và lấy lương thực. Đường về Anh Quốc còn xa, nhân viên trên tầu lại mắc bệnh thời khí. Joseph Banks và Tiến Sĩ Solander cũng ở trong số bệnh nhân. Chỉ có hai người không thọ bệnh là Thuyền Trưởng Cook và một thủy thủ già luôn luôn say rượu. Bệnh thời khí đã làm cho 27 người bỏ mạng trên miền đất xa lạ hoặc nơi biển cả. Rồi con tầu cập bến nước Anh, mang theo các tài liệu khoa học vô giá gồm các bài tường trình, các hình vẽ, các biểu đồ và yếu tố ghi chép, tất cả là những kiến thức mới về thế giới.

 Sự thành công của con tầu Endeavour đã khiến cho Triều Đình Anh lại phái Thuyền Trưởng Cook thực hiện thêm hai cuộc vượt biển vòng quanh trái đất nhưng trong lần thứ hai, John Reinhold Forster đã thay thế Joseph Banks. Khi trở về nước Anh, Forster đã cho xuất bản một cuốn sách nhan đề là “Các điều nhận xét thực hiện trong chuyến đi vòng quanh thế giới” (Observations Made During a Voyage Round the World). Cuốn sách này đã chứa đựng những điều ghi nhận về chiều sâu của đại dương, nhiệt độ, màu sắc của nước biển, nồng độ của muối, các giòng nước và đặc biệt là những bài tường thuật về các loại nước của Nam Băng Dương.

 Cuộc hành trình thứ ba của Thuyền Trưởng Cook kết thúc bằng sự khám phá ra quần đảo Hạ Uy Di và cái chết do tay thổ dân của nhà hàng hải James Cook danh tiếng nhất trong mọi thời đại.

5/ Benjamin Franklin và Mathew Maury.

 Vào khoảng năm 1754, khi làm Tổng Giám Đốc Bưu Điện của các Thuộc Địa Châu Mỹ, Benjamin Franklin nhận được đơn khiếu nại rằng các bưu phẩm gửi từ thành phố New York tới nước Anh đã đi lâu hơn hai tuần so với việc gửi từ thành phố London tới các hải cảng nằm trong Vịnh Narragasett thuộc tiểu bang Rhode Island. Benjamin Franklin thấy rằng phải có một nhầm lẫn nào đó vì từ New York tới Rhode Island chỉ đáng một ngày đường. Hơn nữa thư từ được chuyên chở trên những con tầu nhẹ nhất, chạy nhanh hơn, lại đi thẳng tới một hải cảng nào gần nhất về phía tây nam của nước Anh.

 Một hôm, Benjamin Franklin gặp thuyền trưởng một con tầu đánh cá voi tên là Timothy Folger và Franklin đã đem câu chuyện về sự chậm trễ trong việc chuyên chở thư từ ra hỏi. Folger đã cho Franklin biết có giòng nước Gulf Stream chảy ngoài khơi Bắc Mỹ theo hướng đông bắc, rồi đổi dần sang hướng đông. Vài ngày sau, Folger lại cho Franklin một sơ đồ chỉ rõ vị trí của giòng nước cũng như độ lớn và sức chảy. Benjamin Franklin liền gửi sơ đồ này cho Bộ Trưởng Bưu Điện Anh Quốc là Anthony Todd để khuyên các con tầu chở thư nên lợi dụng sơ đồ này vào việc chuyển vận.

 Mùa xuân năm 1775, trong chuyến trở về Bắc Mỹ, Benjamin Franklin nhớ lại các lời nói trước kia của thuyền trưởng Folger. Ông liền lấy nhiệt kế và trong suốt cuộc đi biển, ông đã đo nhiệt độ để kiểm chứng những điều hiểu biết khi trước.

 Trong chuyến sang châu Âu lần thứ tư, Franklin tiếp tục các công cuộc khảo sát giòng nước  Gulf Stream, mặc dù lần đi này mang đặc tính hết sức trọng đại vì nếu gặp tầu Anh, chắc chắn ông sẽ bị bắt và bị treo cổ do tội phản nghịch vì ông là một trong các nhà Cách Mạng Hoa Kỳ. Benjamin Franklin không bao giờ ngưng tìm cách khảo cứu khi ông có một chút thời giờ dư dả. Khi Franklin quan tâm tới giòng nước Gulf Stream vào năm 1770 thì các chuyến tầu vượt Đại Tây Dương phải mất từ 6 tới 8 tuần lễ. Hai mươi năm sau, khi các công trình khảo sát của Benjamin Franklin đã được mọi người biết đến, thời gian kể trên chỉ còn 4 tuần lễ.

 Từ lâu, thuật Hàng Hải không được giảng dạy bằng sách vở hay không do một trường chuyên môn đảm nhiệm. Các thủy thủ chỉ học được những kiến thức về biển cả qua kinh nghiệm, qua những điều mắt thấy tai nghe. Sách vở về Hàng Hải rất thiếu thốn và chưa có một cuốn sách nào gây được tiếng vang cho tới tháng 1 năm 1836, một cuốn sách của Thuyền Trưởng Mathew Maury ra đời: cuốn “Khảo Sát Lý Thuyết Mới về Thuật Hàng Hải” (A New Theoretical Treatise on Navigation). Trong mục phê bình sách, nhiều tờ báo đã ca tụng Maury rồi ông Maury còn nhận được hai bức thư khen ngợi của Tổng Thống Andrew Jackson và của ông Sam Houston, Nghị Sĩ tiểu bang Tennessee.

 Sau khi xuất bản cuốn sách, Mathew Maury được thăng Đại Tá Hải Quân và được chỉ định nhiệm vụ làm địa hình các bờ biển Mỹ Quốc nhưng trong chuyến về thăm gia đình tại tiểu bang Tennessee, lúc trở về Maury bị lật xe và bị gẫy chân, ông phải nằm điều trị trong mấy tháng. Khi quay về New York, con tầu biển mà Maury phục vụ đã nhổ neo, ông đành trở lại Frederickburg để chờ lệnh mới. Chính trong lúc nhàn rỗi này, Maury đã trở lại với cây bút. Dưới bí danh Harry Bluff, Maury đã viết một loạt bài cho tờ báo Southern Literary Messenger trong đó ông bày tỏ tất cả ý kiến của mình đối với Hải Quân. Ông cũng đề nghị nhiều cải tổ và sự thành lập Hàn Lâm Viện Hải Quân.

 Những bài viết của Maury khiến chính quyền Hoa Kỳ chú ý. Maury được hỏi ý kiến về việc biệt phái ông sang Bộ Hải Quân nhưng ông đã từ chối vì không thích dính dáng đến chính trị. Cuối cùng ông được chỉ định làm Giám Đốc Văn Phòng Bản Đồ và Dụng Cụ (Depot of Charts and Instruments). Trong thơi gian phục vụ tại cơ quan mới này, Maury đã bất chợt xem đến một cuốn nhật ký hàng hải có tên là “Nhật Ký trong một hành trình từ Norfolk tới Rio vào năm 1801“. Maury đã thấy cuốn sách ghi rõ thời gian đi đường tới Rio de Janeiro là 57 ngày, trong khi chính ông điều khiển con tầu Falmouth lại mất 70 ngày. Ông tự hỏi hẳn phải có những điều bí ẩn về thời tiết, về gió và giòng nước… khiến cho một con tầu đi nhanh hơn trên một hải trình nào đó.

 Sau khi tham khảo hàng ngàn cuốn nhật ký hàng hải khác, Maury không tìm ra yếu tố đặc biệt mà ông cần tới. Vì vậy ông thấy rằng các tầu bè đi biển cần phải ghi lại mỗi ngày nhiều lần một cách chính xác các yếu tố liên quan tới hàng hải để có thể từ đó suy ra những con đường đi mất ít thời giờ hơn. Maury đã kêu gọi các thuyền trưởng ghi vào nhật ký hàng hải các khám phá về những hòn đảo, những chỗ nguy hiểm, những nhầm lẫn và chính xác trên bản đồ, các hải trình đặc biệt ngắn, hướng và sức gió ghi 3 lần một  ngày và đối với 8 hướng trên địa bàn…

 Nhưng sau một năm chờ đợi, Văn Phòng Bản Đồ và Dụng Cụ không nhận được một cuốn nhật ký nào gửi về theo như lời Maury yêu cầu các thuyền trưởng. Maury đành trình bày dự định của mình trước Viện Quốc Gia Khuyến Khích Khoa Học tại Washington (The National Institute for the Promotion of Science in Washington). Nhiều ý kiến của Maury đã được các nhân viên của Viện trên tán thưởng nhiệt liệt. Sau đó sự đắc cử của Tổng ThốngJames Polk và sự nhậm chức Bộ Trưởng Hải Quân của ông George Bancroft đã khiến cho các ý kiến xây dựng của Mathew Maury được thực hiện. Bancroft là người đã từng khâm phục Maury qua các bài báo viết về hàng hải, vì vậy ông ta rất xúc động trước kế hoạch của Maury. Từ đó tất cả các tầu biển Hoa Kỳ đều phải hàng ngày ghi vào trong cuốn nhật ký hàng hải đủ 24 cột.

 Sau 6 năm trời mang tất cả các yếu tố từ các cuốn nhật ký hàng hải lên bản đồ, các bản đồ đầu tiên về gió và giòng nước được Maury cho phổ biến. Nhờ dụng cụ mới này, thời gian đi biển đã được thu ngắn lại một cách rất khả quan. Đi từ New York tới San Francisco qua Mũi Horn trước kia phải mất 6 tháng, nay còn gần 5 tháng. Quãng đường từ Norfolk tới Rio được bớt đi 10 ngày so với kỷ lục thời trước.

 Công trình của Mathew Maury đã mang lại kết quả rực rỡ. Tại mọi nơi, các nhà hàng hải đã đòi hỏi thêm loại bản đồ đó rồi các yếu tố gửi về ngày một đầy đủ hơn. Maury đã cho sửa chữa, bổ túc các bản đồ loại cũ và in thêm các ấn bản mới. Văn Phòng Bản Đồ và Dụng Cụ được khuếch trương thêm và đổi tên thành Cơ Quan Thủy Đạo và Quan Sát Hải Quân Hoa Kỳ (The United States Naval Observatory and Hydrographic Office).

 Căn cứ vào những khảo sát về đại dương, Mathew Maury cho xuất bản vào năm 1855 cuốn Khảo Sát Vật Lý Địa Cầu của Đại Dương (The Physical Geography of The Sea). Đây là cuốn sách đầu tiên viết đầy đủ về Hải Dương Học.

6/ Edward Forbes.

 Nếu Mathew Fontaine Maury chuyên tâm về gió biển và các luồng nước, thì các sinh vật sống trong nước biển lại được Edward Forbes khảo cứu. Forbes người đảo Man, một hòn đảo nhỏ trong Vịnh Ái nhĩ Lan. Ngay từ thuở nhỏ, Forbes đã ưa thích đi bắt các con bướm, các tổ chim hay thu lượm những vỏ hến, vỏ sò cùng các sinh vật sống trong nước biển. Lớn lên, Forbes được theo học Đại Học Edinburg và rất ưa thích các môn Thực Vật Học, Sinh Vật Học và Địa Chất Học. Trong thời kỳ sinh viên, Forbes đã từng sang xứ Algérie du lịch và đã tới nhiều hòn đảo để thu lượm các mẫu sinh vật. Forbes đã chia những động vật không có xương sống bên trong nước biển ra làm 5 loại: loài bọt biển (porifera), loài xoang tràng (coelenterata), loài nhuyến thể (mollusca), loài đa gai (echinodermata) và loài giáp xác (crustacea).

 Để đỡ bị eo hẹp về tiền bạc, Forbes bắt đầu viết sách và diễn giảng về Van Vật Học. Cuốn sách đầu tiên của ông cho xuất bản có tên là “Lịch Sử loài Sao Biển của nước Anh” (The History of British Starfishes). Cuốn sách này trong nhiều năm đã là một công trình khảo cứu mẫu mực và là một cuốn tài liệu tham khảo đầy đủ.

 Thời bấy giờ, con tầu địa hình Beacon (survey ship) đang cần một nhà thiên nhiên học. Forbes gửi đơn xin chân này. Đối với một nhà khoa học, đây là một dịp may đáng giá vì là cơ hội tìm kiếm các sinh vật ở sâu dưới nước hơn, lại thuộc về phạm vi rộng lớn hơn. Cả ngày trên tầu Beacon, Forbes làm việc với cái lưới, với cần câu và ngòi bút, ông lại hay chỉ dẫn cho nhiều người trên tầu hiểu rõ về môn Hải Dương Học. Vì vậy rất nhiều sĩ quan và thủy thủ đã trở thành học trò và những người giúp đỡ ông. Forbes đã sống trên tầu Beacon hơn một năm rưỡi, con tầu này đã đi lại trên Địa Trung Hải, đã cập bến nhiều nơi và nhờ vậy Forbes có dịp đặt chân lên xứ Hy Lạp. Chính tại nơi này, Forbes khảo cứu thêm môn học mới: ngành Khảo Cổ.

 Từ trước, Edward Forbes vẫn tin tưởng rằng ở sâu dưới  biển không có sinh vật nào sống nổi vì sức ép, vì sự tối đặc và lạnh buốt của nước. Nhưng khi thả lưới sâu dưới 200 fathoms (fathom là đơn vị đo chiều sâu ở biển, bằng 1.829 thước), ông rất ngạc nhiên khi bắt gặp loài sao biển quen thuộc. Forbes đang dự tính về cuộc khảo sát so sánh các sinh vật sống trong Địa Trung Hải và Hồng Hải thì được tin tại London, Trường King’s College sẽ mở lớp giảng dạy về Thực Vật Học, vì thế ông trở về nước Anh. Trong thời gian ở London này, Forbes đã cho in tấm bản đồ đầu tiên chỉ rõ sự phân phối các loài hải sinh vật trên thế giới. Ông cũng cho xuất bản nhiều cuốn sách có giá trị trong đó có cuốn “Vạn Vật Học của các Đại Dương ở châu Âu” (The Natural History of the European Seas). Vài tháng trước khi qua đời, Forbes đã giữ chân Giáo Sư Vạn Vật Học tại trường Đại Học Edinburg, một chức vị mà ông đã mong mỏi từ thời còn là một sinh viên.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *